60/2008/QĐ-UBNDQuyết địnhHết hiệu lực toàn bộ

Quy định chế độ thu, quản lý và sử dụng Lệ phí cấp giấy phép hoạt động điện lực trên địa bàn tỉnh Bình Thuận

Cơ quan ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận
Người ký
Huỳnh Tấn Thành
Ngày ban hành
29/07/2008
Ngày hiệu lực
08/08/2008

Mục lục (19 điều)

  1. Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định về chế độ thu, quản lý và sử dụng Lệ phí cấp giấy phép hoạt động điện lực trên địa bàn tỉnh Bình Thuận.
  2. Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành.
  3. Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Tư pháp, Cục trưởng Cục thuế tỉnh, Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh, Giám đốc Sở Công Thương, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Thủ trưởng các cơ quan thuộc UBND tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và các tổ chức, cá nhân có liên quan căn cứ Quyết định thi hành./.
  4. Chương I
  5. Điều 1. Lệ phí cấp giấy phép hoạt động điện lực (sau đây gọi tắt là Lệ phí) là khoản thu đối với tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn giấy phép hoạt động điện lực.
  6. Điều 2. Tổ chức thu Lệ phí là cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn giấy phép hoạt động điện lực (Sở Công Thương).
  7. Chương II
  8. Điều 3. Mức thu Lệ phí.
  9. Điều 4. Quản lý và sử dụng tiền thu Lệ phí.
  10. Chương III
  11. Điều 5. Chứng từ thu Lệ phí.
  12. Điều 6. Trách nhiệm của tổ chức thu Lệ phí.
  13. Điều 7. Trách nhiệm của cơ quan thuế.
  14. Chương IV
  15. Điều 8. Tổ chức, cá nhân không nộp hoặc nộp không đủ tiền Lệ phí thì không được cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn giấy phép hoặc bị xử lý theo quy định của pháp luật.
  16. Điều 9. Tổ chức, cá nhân có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định về Lệ phí mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 106/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí, Thông tư số 06/2004/TT-BTC ngày 04/02/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 106/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02/7/2002.
  17. Điều 10. Tổ chức, cá nhân thu Lệ phí vi phạm quy định về đăng ký, kê khai thu, nộp Lệ phí, về mức thu, chứng từ thu, quản lý sử dụng tiền Lệ phí, về chế độ kế toán, về công khai chế độ thu Lệ phí, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
  18. Chương V
  19. Điều 11. Tổ chức có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp luật về Lệ phí.
  20. Điều 12. Tổ chức, cá nhân nộp Lệ phí không đồng ý với quyết định thu Lệ phí có quyền gởi đơn khiếu nại đến tổ chức thu trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nộp. Trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại, người khiếu nại phải thực hiện quyết định thu Lệ phí.
  21. Điều 13. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, tổ chức thu Lệ phí phải giải quyết và trả lời cho người khiếu nại bằng văn bản. Nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của đơn vị mình thì phải chuyển đơn khiếu nại hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết trong vòng 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại.
  22. Điều 14. Trường hợp quá thời hạn quy định tại Điều 13 Quy định này mà không được giải quyết hoặc người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, thì người khiếu nại có quyền tiếp tục khiếu nại hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
  23. Chương VI
  24. Điều 15
  25. Điều 16. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh những vướng mắc cần điều chỉnh, đơn vị thu Lệ phí kịp thời phản ánh với cơ quan chức năng để xem xét trình UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Trong thời gian chưa có quy định sửa đổi, bổ sung của UBND tỉnh thì vẫn phải thực hiện theo các quy định hiện hành./.

Thông tin tham khảo. Giá trị pháp lý theo văn bản gốc đăng Công báo.