80/HĐBTQuyết địnhCòn hiệu lực
Về các chính sách đổi mới cơ chế quản lý xây dựng cơ bản
- Cơ quan ban hành
- Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký
- Võ Văn Kiệt
- Ngày ban hành
- 09/05/1988
- Ngày hiệu lực
- 09/05/1988
Mục lục (21 điều)
- Điều 1. - Nay ban hành bản quy định về các chính sách đổi mới cơ chế quản lý xây dựng cơ bản nhằm chuyển hoạt động của đơn vị kinh tế cơ sở xây dựng sang hạch toán kinh doanh, xác định trách nhiệm và quyền hạn của chủ đầu tư, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về xây dựng cơ bản.
- Điều 2. - Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Mọi quy định trước đây trái với Quyết định này đều bị bãi bỏ. Căn cứ vào các điều khoản có liên quan đến chức năng của mình, các cơ quan quản lý Nhà nước có chức năng tổng hợp chịu trách nhiệm ra thông tư hướng dẫn, đồng thời rà soát, chỉnh lý lại các văn bản đã ban hành trước đây cho phù hợp với cơ chế quản lý quy định trong văn bản này.
- Điều 3. - Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
- Điều 1. - Ngân sách Nhà nước (Trung ương và địa phương) chỉ cấp vốn theo kế hoạch đầu tư được duyệt cho những công trình phúc lợi công cộng, công trình kỹ thuật hạ tầng và một số công trình sản xuất quan trọng của Nhà nước có quy mô lớn và thời gian thu hồi vốn dài. Những công trình khác (bao gồm các công trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ) đều đầu tư bằng vốn tự có của đơn vị cơ sở, vốn vay Ngân hàng và các nguồn vốn khác mà cơ sở có thể huy động được theo đúng chính sách của Nhà nước.
- Điều 2. - Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước chỉ trực tiếp cân đối vốn ngân sách cho các công trình quan trọng của Nhà nước, kèm theo các yếu tố vật chất chủ yếu về vật tư, vận tải; còn lại giao cho từng Bộ, tỉnh, thành phố theo tổng mức vốn đầu tư với cơ cấu vốn đầu tư xác định và số vật tư chủ yếu kèm theo. Các Bộ, tỉnh, thành phố được toàn quyền bố trí và điều chỉnh vốn, vật tư chủ yếu cho từng công trình cụ thể theo danh mục công trình đã đăng ký trong kế hoạch hàng năm và 5 năm, dựa vào các hợp đồng kinh tế đã ký với chủ thầu, đồng thời chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư và theo đúng hướng đầu tư chung của Nhà nước.
- Điều 3. - Kế hoạch khảo sát, thiết kế, xây lắp hàng năm và 5 năm do các tổ chức nhận thầu lập, căn cứ vào số hướng dẫn của cơ quan cấp trên, các định mức kinh tế, đơn đặt hàng của Nhà nước, các hợp đồng kinh tế với các khách hàng. Đơn vị cơ sở chỉ bảo vệ và nhận các chỉ tiêu pháp lệnh trước cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao kế hoạch về phần vốn đầu tư bằng ngân sách.
- Điều 4. - Mọi công trình không phân biệt quy mô, nếu đầu tư bằng vốn ngân sách đều được cân đối các vật tư chủ yếu. Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước trực tiếp cân đối vật tư chủ yếu cho các công trình quan trọng của Nhà nước và xác định các tổ chức cung ứng.
- Điều 5. - Chủ đầu tư là Giám đốc các tổ chức được giao trách nhiệm khai thác, sử dụng hoặc quản lý công trình sau khi xây dựng xong. Đối với công trình kỹ thuật hạ tầng, công trình phúc lợi công cộng không mang tính chất sản xuất kinh doanh, đầu tư bằng vốn ngân sách, Nhà nước uỷ quyền cho Bộ chủ quản hoặc Uỷ ban Nhân dân tỉnh xác định chủ đầu tư trong quá trình chuẩn bị đầu tư và xây dựng. Chủ đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm kinh tế và pháp lý về hiệu quả đầu tư, từ chuẩn bị đầu tư đến đưa công trình vào sản xuất, sử dụng. Chủ đầu tư chỉ chịu sự chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp.
- Điều 6. - Chủ đầu tư được quyền thuê các tổ chức khảo sát, thiết kế, nghiên cứu khoa học có tư cách pháp nhân làm dịch vụ kỹ thuật về luận chứng kinh tế kỹ thuật, khảo sát, thiết kế, dự toán, kiểm tra chất lượng, nghiệm thu công trình.
- Điều 7. - Từng bước thực hiện đấu thầu trong xây dựng trước mắt tổ chức thí điểm đấu thầu xây lắp đối với các công trình nhỏ, nhà ở và áp dụng đấu thầu đối với công tác khảo sát, thiết kế công trình. Tham gia đấu thầu là các tổ chức xây dựng có tư cách pháp nhân, có đủ cán bộ thành thạo nghề nghiệp và có cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện. Khuyến khích việc thi tuyển phương án thiết kế xây dựng.
- Điều 8. - Chủ thầu là Giám đốc các tổ chức xây lắp quốc doanh hoặc tập thể có tư cách pháp nhân và là bên ký hợp đồng kinh tế với chủ đầu tư.
- Điều 9. - Ngoài việc áp dụng các quy định về vốn tự có dành cho xây dựng cơ bản, tài sản cố định, vốn lưu động, lợi nhuận, khấu hao cơ bản, quyền sử dụng linh hoạt các nguồn vốn của cơ sở cũng như quy định về lao động và tiền lương đã ban hành theo Quyết định số 217-HĐBT ngày 14-11-1987 của Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Tài chính nghiên cứu ban hành chế độ thu phí các công trình kỹ thuật hạ tầng và phúc lợi công cộng để duy trì năng lực sử dụng và thu hồi dần vốn đầu tư các công trình đó; quy định phần trích nộp lợi nhuận cho ngân sách Trung ương và địa phương phù hợp với tính chất lưu động của các cơ sở xây dựng; chế độ thuế vốn sản xuất, thuế sử dụng đất xây dựng nhằm kích thích các đơn vị cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định, vốn cố định và tiết kiệm đất xây dựng.
- Điều 10. - Đối với phần vốn lưu động định mức của bên nhận thầu. Trường hợp ngân sách cấp chưa đủ (hoặc không kịp thời) mà bên nhận thầu phải vay vốn Ngân hàng để hoạt động thì phần lợi tức phải trả Ngân hàng cho vay nói trên sẽ được trừ vào lãi của đơn vị phải nộp ngân sách theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
- Điều 11. - Nhà nước thực hiện quản lý giá sản phẩm xây dựng trên cơ sở ban hành các nguyên tắc, phương pháp xác định giá, các căn cứ chủ yếu để định giá ở từng giai đoạn của quá trình đầu tư (lập luận chứng kinh tế kỹ thuật, thiết kế, thi công...) và mức giá tổng hợp phù hợp trong từng thời kỳ (suất đầu tư, đơn giá dự toán tổng hợp). Các đơn vị kinh tế cơ sở (chủ đầu tư, đơn vị nhận thầu khảo sát, thiết kế, xây lắp) được quyền xác định giá hợp đồng cụ thể phù hợp với điều kiện xây dựng thực tế để ký hợp đồng kinh tế và được quyền căn cứ vào các quy định về trượt giá chung của Nhà nước để thoả thuận điều chỉnh lại giá hợp đồng.
- Điều 12. - Nhà nước ban hành các chính sách khuyến khích các tổ chức nghiên cứu và thiết kế làm công tác dịch vụ khoa học kỹ thuật, dịch vụ đầu tư và cải tiến chế độ khen thưởng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thiết kế và thi công xây lắp.
- Điều 13. - Trước mắt, các Bộ, Tổng cục có lực lượng xây lắp chuyên ngành xây dựng, công nghiệp, dân dụng, giao thông, thuỷ lợi, hầm mỏ, trạm và đường dây tải điện, thông tin, đường ống và kho xăng dầu, khai hoang, lâm nghiệp, dầu khí, quốc phòng cần thông qua các biện pháp kinh tế để sắp xếp tổ chức lại các đơn vị xây lắp, nhằm thực sự hình thành các đơn vị cơ sở thực hiện hạch toán kinh doanh theo Quyết định số 217-HĐBT ngày 14-11-1987 của Hội đồng Bộ trưởng.
- Điều 14. - Các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương cần sắp xếp ổn định lực lượng theo sự phân công của Bộ quản lý ngành để vươn lên đảm nhận tổ chức xây dựng hầu hết các công trình công cộng, nhà ở, công trình kỹ thuật hạ tầng, nông nghiệp, thuỷ lợi, giao thông trong địa phương. Các đơn vị cơ sở xây lắp của địa phương đặt dưới sự quản lý Nhà nước về kinh tế của các sở chuyên ngành thuộc Uỷ ban Nhân dân địa phương.
- Điều 15. - Mô hình đơn vị cơ sở xây lắp thích hợp chung cho cả Trung ương và địa phương hiện nay là xí nghiệp, công ty quản lý trực tiếp xuống đội (sản xuất, dịch vụ, khảo sát...) và xưởng (sửa chữa, gia công, thiết kế...). Nếu tổ chức theo mô hình Tổng công ty, Liên hiệp các xí nghiệp thì các công ty, xí nghiệp trực thuộc phải rất gọn nhẹ (để làm chức năng của đội, xưởng) và không tổ chức đội hoặc xưởng dưới xí nghiệp, công ty trực thuộc, nhằm thực hiện hạch toán một cấp. Các đơn vị cơ sở này hoạt động chủ yếu theo vùng lãnh thổ hoặc theo khu vực trong tỉnh, thành phố.
- Điều 16. - Đơn vị thiết kế xây dựng (quy hoạch, công trình) được tổ chức dưới dạng Viện thiết kế (tổng hợp, chuyên ngành, chuyên đề, khu vực...) xí nghiệp, phòng và xưởng thiết kế. Đơn vị khảo sát xây dựng được tổ chức dưới dạng xí nghiệp, liên hiệp các xí nghiệp.
- Điều 17. - Các tổ chức cung ứng vật tư, vật liệu xây dựng dù dưới bất cứ hình thức nào (xí nghiệp hoặc công ty) đều chuyển sang hạch toán kinh doanh, có trách nhiệm cùng các đơn vị xây lắp ký kết và thực hiện đúng hợp đồng về mua, bán vật tư, vật liệu và tiêu thụ sản phẩm xây dựng (nếu có).
- Điều 18. - Quản lý Nhà nước về xây dựng cơ bản ở Trung ương có Bộ Xây dựng, các Uỷ ban Nhà nước, các Bộ ngành chức năng (Kế hoạch, Tài chính, Ngân hàng, Vật giá...) và các Bộ xây dựng chuyên ngành; ở địa phương (tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương) có các cơ quan chức năng của Uỷ ban Nhân dân.
Thông tin tham khảo. Giá trị pháp lý theo văn bản gốc đăng Công báo.