187/2003/QĐ-TTgQuyết địnhHết hiệu lực toàn bộ
Về việc ban hành Quy chế quản lý kinh doanh xăng, dầu
- Cơ quan ban hành
- Thủ tướng Chính phủ
- Người ký
- Vũ Khoan
- Ngày ban hành
- 15/09/2003
- Ngày hiệu lực
- 01/01/2004
Mục lục (24 điều)
- Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế quản lý kinh doanh xăng, dầu.
- Điều 2. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004. Bộ trưởng các Bộ: Thương mại, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư và Giao thông vận tải chịu trách nhiệm ban hành các văn bản liên quan nêu tại Quy chế quản lý kinh doanh xăng, dầu kèm theo Quyết định này, bảo đảm thực hiện đồng bộ khi Quyết định này có hiệu lực thi hành. Các quy định trái với những quy định trong Quy chế kèm theo Quyết định này đều được bãi bỏ.
- Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ tưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan trực thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
- Chương I
- Điều 1. Xăng, dầu là mặt hàng kinh doanh có điều kiện. Thương nhân kinh doanh nhập khẩu (kể cả nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất, pha chế xăng, dầu), kinh doanh xăng, dầu trên thị trường nội địa (kể cả thương nhân làm đại lý bán lẻ xăng, dầu) phải tuân thủ các điều kiện, quy định tại Quy chế này và các quy định hiện hành khác về kinh doanh xăng, dầu.
- Điều 2. Doanh nghiệp được kinh doanh nhập khẩu xăng, dầu phải đáp ứng các điều kiện, quy định nêu tại Điều 5 Quy chế này và phải có Giấy phép kinh doanh do Bộ Thương mại cấp.
- Điều 3. Việc phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật để kinh doanh nhập khẩu và kinh doanh xăng, dầu trên thị trường nội địa (cảng tiếp nhận xăng, dầu nhập khẩu, kho tiếp nhận đầu mối, kho trung chuyển, kho phân phối xăng, dầu, cửa hàng xăng, dầu) phải tuân thủ quy hoạch do cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Điều 4. Doanh nghiệp nhập khẩu xăng, dầu chuyên dụng cho nhu cầu sử dụng của mình, không kinh doanh trên thị trường nội địa, thực hiện theo quy định riêng của Bộ trưởng Bộ Thương mại.
- Chương II
- Điều 5. Điều kiện kinh doanh nhập khẩu xăng, dầu.
- Điều 6. Kinh doanh xăng, dầu nội địa.
- Chương III
- Điều 7. Hàng năm, căn cứ cân đối cung cầu cho nền kinh tế quốc dân, Bộ Thương mại chủ trì cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư xác định nhu cầu định hướng về nhập khẩu xăng, dầu cho cả nước (theo cơ cấu sản phẩm) của năm tiếp theo và công bố để các doanh nghiệp nhập khẩu xăng, dầu biết, chủ động trong kinh doanh. Nhu cầu đặc biệt cho quốc phòng được xác định riêng.
- Điều 8. Trên cơ sở tổng nhu cầu định hướng về nhập khẩu xăng, dầu, Bộ Thương mại giao hạn mức nhập khẩu tối thiểu cả năm cho từng doanh nghiệp có Giấy phép kinh doanh nhập khẩu xăng, dầu để làm thủ tục nhập khẩu tại cơ quan hải quan.
- Điều 9. Căn cứ khả năng khai thác thị trường trong, ngoài nước, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu xăng, dầu tự quyết định việc nhập khẩu xăng, dầu các loại để tiêu thụ nội địa hoặc tái xuất, nhưng không được nhập khẩu thấp hơn hạn mức tối thiểu được giao (kể cả số lượng và cơ cấu).
- Điều 10. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các ngân hàng thương mại bảo đảm ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu xăng, dầu theo hạn mức tối thiểu được giao.
- Chương IV
- Điều 11. Giá bán xăng, dầu của các doanh nghiệp được xác định trên cơ sở giá định hướng, theo các nguyên tắc sau:
- Điều 12. Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu xăng, dầu phải tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh của mình, nhà nước không bù lỗ.
- Điều 13. Để bảo đảm nhu cầu xăng, dầu cho sản xuất, tiêu dùng xã hội và bình ổn thị trường khi giá xăng, dầu thế giới có biến động lớn, Thủ tướng Chính phủ sẽ áp dụng các biện pháp kinh tế - hành chính để can thiệp vào thị trường xăng, dầu. Bộ Thương mại chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định các giải pháp cụ thể
- Chương V
- Điều 14. Chỉ các doanh nghiệp có Giấy phép kinh doanh nhập khẩu xăng, dầu mới được tái xuất xăng, dầu và không phải xin phép Bộ Thương mại khi thực hiện tái xuất xăng, dầu.
- Điều 15. Việc hoàn thuế nhập khẩu xăng, dầu tái xuất chỉ được thực hiện sau khi xăng, dầu thực tái xuất và xăng, dầu tái xuất phải được thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi.
- Điều 16. Bộ Thương mại ban hành Quy chế tái xuất xăng, dầu, bảo đảm chống buôn lậu, gian lận thương mại.
- Chương VI
- Điều 17. Việc quản lý dự trữ và sử dụng xăng, dầu dự trữ quốc gia thực hiện theo quy định riêng của Thủ tướng Chính phủ.
- Điều 18. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Thương mại và Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập kế hoạch dự trữ quốc gia về xăng, dầu và xây dựng Quy chế quản lý xăng, dầu dự trữ quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Chương VII
- Điều 19. Bộ Thương mại chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc kiểm tra chấp hành các quy định trong Quy chế này và các văn bản có liên quan khác; bảo đảm thị trường xăng, dầu ổn định, ngăn chặn các hiện tượng đầu cơ, nâng giá, bán sai giá, bán không đúng chất lượng được quy định.
- Điều 20. Doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu vi phạm các quy định tại Quy chế này, tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại và theo quy định của pháp luật.
- Chương VIII
- Điều 21. Bộ Thương mại chủ trì cùng Bộ Tài chính tổ chức thực hiện việc điều hành kinh doanh xăng, dầu theo các quy định của Quy chế này và các văn bản liên quan khác; xử lý các vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện Quy chế; báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền các Bộ, ngành liên quan./.
Thông tin tham khảo. Giá trị pháp lý theo văn bản gốc đăng Công báo.